Ý Nghĩa Cung Mệnh Và Sự Ảnh Hưởng Của Các Chính Tinh Và Phụ Tinh Trong Tử Vi

Nội dung chính [Hiện]

Cung Mệnh là một khái niệm quan trọng trong tử vi, được xây dựng dựa trên Cung Phi Bát Trạch trong Kinh Dịch. Cung Mệnh bao gồm nhiều yếu tố khác nhau và có sự phụ thuộc vào năm sinh âm lịch cũng như giới tính của mỗi người. Đặc điểm nổi bật của Cung Mệnh là dù sinh cùng một năm nhưng mỗi người vẫn có thể có cung Mệnh khác nhau, tạo nên sự đa dạng và phức tạp trong việc xác định vận mệnh. Cung Mệnh không chỉ giúp xác định sự tương sinh, tương khắc của nhiều yếu tố xung quanh đến chủ nhân lá số mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường các mối quan hệ xã hội. Bằng cách hiểu rõ về Cung Mệnh của mình, chúng ta có thể biết cách điều chỉnh và cải thiện các mối quan hệ, cũng như tạo ra sự hài hòa và cân bằng trong cuộc sống. Hãy theo dõi bài viết này để khám phá thêm về Cung Mệnh của mình, từ đó hiểu rõ hơn về bản thân và những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.

Ý nghĩa cung Mệnh trong Tử Vi

1. Ý nghĩa cung Mệnh là gì?

Cung Mệnh: Trụ Cột Của Lá Số Tử Vi

Cung Mệnh là cung đầu tiên và quan trọng nhất trong lá số tử vi, đóng vai trò như "đầu não" của con người. Đây là nơi diễn ra các hoạt động tư duy, lập kế hoạch và ra lệnh, định hình nên bản chất và cuộc sống của đương số.

Mối Liên Hệ Mật Thiết Với Các Cung Khác

Cung Mệnh có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các cung còn lại trong lá số tử vi. Mười một cung khác có thể xem như tứ chi và xương cốt của cơ thể, mỗi bộ phận đảm nhiệm những chức năng riêng nhưng vẫn chịu sự chỉ huy của cung Mệnh. Sự kết hợp giữa các sao cát hung trong cung Mệnh cho phép chúng ta suy đoán được vận mệnh tiên thiên của một người.

Cung Mệnh Và Cung Thiên Di

Cung Mệnh đối xứng với cung Thiên Di, cung biểu hiện những yếu tố tiềm ẩn và thuộc về âm. Khi xem xét các yếu tố như số mệnh, ngoại hình, cá tính, và tài năng, cần tham khảo cung Thiên Di để hiểu rõ hơn về bản chất tiềm ẩn của đương số. Đặc biệt, nếu cung Mệnh không có chính diệu, trạng thái của các sao cát hung ở cung đối xứng sẽ phản ánh phần lớn thông tin về vận mệnh của chủ mệnh.

Tam Hợp Cung: Tài Bạch Và Quan Lộc

Khi phán đoán vận mệnh trong lá số tử vi, không thể bỏ qua cung Tài Bạch và Quan Lộc trong tam hợp. Vận mệnh của con người có mối liên hệ mật thiết với khả năng kinh tế và trạng thái sự nghiệp. Sự thịnh suy của những cung này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời và thành tựu của đương số.

Nội Dung Bao Hàm Của Cung Mệnh

Cung Mệnh bao hàm nhiều yếu tố quan trọng của cuộc đời con người, bao gồm:

  • Thể chất và tướng mạo.
  • Tình trạng sức khỏe và bệnh tật.
  • Tính cách và cá tính.
  • Khả năng chuyên môn, khoa giáp, quyền hành, và tài lộc.
  • Tai họa và bệnh tật gặp phải.
  • Sự thăng trầm trong cuộc sống và tuổi thọ.

Thời Gian Ảnh Hưởng

Cung Mệnh chủ yếu ảnh hưởng đến thời gian niên thiếu từ lúc sinh ra cho đến khoảng 30 tuổi, giai đoạn được xem như tuổi thành thân. Đây là giai đoạn hình thành cơ bản của con người, tạo nền tảng cho các giai đoạn tiếp theo của cuộc đời.

2. Ý nghĩa các chính tinh trong cung Mệnh

2.1. Tử Vi

Cung Mệnh có sao Tử Vi miếu địa, Vượng hay Đắc địa tọa thủ thì người cao lớn, đẫy đà, da nâu, tức màu hồng đao, hơi đậm nét, tính nết cẩn trọng, nghiêm túc, suốt đời sung sướng, ít ốm đau, càng về già càng tốt. Đắc, Vượng, Miếu địa là nhiều cơ mưu, thủ đoạn, dám tiến tới, không chịu lùi, đôi khi dám làm các điều quá độ, kể cả bắt nghĩa, miễn được thành công.

Gặp nhiều trung tinh đắc địa thì uy quyền, hiển hách. Cần gặp Tả Phù, Khôi Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Đào Hoa, Khoa Quyền Lộc, Long Trì, Phượng Các, Binh - Hình- Tướng- Ấn chiếu là uy quyền. Gặp nhiều sao mờ ám xấu xa, nhất là Không Kiếp thì suốt đời bôn ba vất vả, gặp những sự chẳng xứng ý toại lòng.

Gặp Tuần Triệt án ngữ thì sớm khắc cha hoặc mẹ, hay khắc anh chị em, lúc thiếu thời vất vả, hay ốm yếu, hay xa gia đình làm con nuôi người khác, Cũng có khi bị tai nạn què quật hay non yếu.

An tại Mão Dậu sẽ gặp Tham Lang đồng cung, nếu khắc hành của Mệnh thì sẽ là người yếu thế dù có lấy vợ cũng khổ vì vợ làm cho chán cảnh trần duyên, muốn rũ bụi trần. Cũng có khi ly cách vợ con, sống đời ép xác. An tại Sửu Mùi, gặp Phá Quân là cách để ngộ hung đồ, nếu nhiều ác sát tinh thì dễ bị tù đày, què quặt, tật nguyền, cả đời bất mãn.

  • Nam mạng: Tử Vi tốt đẹp hưởng phú quý lâu dài và thọ. Gặp Tuần Triệt đương đầu thì dễ khắc cha mẹ, anh chị em, nhưng về già sung sướng. Gặp Tướng ở Thìn Tuất là táo bạo, dám làm tới, không nể tai tiếng.
  • Nữ mạng: Tử Vi hợp mệnh, đắc địa, có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp là người Vượng Phu ích tử, sống lâu, hưởng giàu sang trọn đời.

Tuy nhiên, cung Mệnh đóng ở Dần, người tuổi Kim là cao số, dễ cô đơn, khắc chồng con, bởi là cung Tuyệt địa mà cung Tử Tức có Thái Dương chìm ở Hợi.

Gặp Tuần Triệt cũng kém, khắc chồng vài lần, lấy chồng muộn hay lấy làm kế thì mới bền. Gặp nhiều sao mờ ám, hung hãn thì là người thủ đoạn, hạ tiền, khắc khổ, gian truân.

  • Hội cùng Tả Hữu: Uy quyền, gọi một tiếng trăm người thưa.
  • Tử Vi cư mệnh, cung Phúc Đức ở phía trước mặt có Lâm Quan và Văn Xương Chức trọng quyền cao, y hư đi xe vàng có tán báu che, mặc áo có hương thơm.
  • Đồng cung vô sát, Giáp nhân hưởng phúc chung thân: người tuổi Giáp, Mệnh có Tử Phù đóng ở Dần có thêm Lộc Tồn: Phú quý song toàn.
  • Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Tứ Sát đồng cung: Phú quý song toàn.
  • Gặp Văn Xương, Văn Khúc: Phú quý vinh hoa nhất định.
  • Cung Mệnh an tại hai cung Tý Ngọ mà có Tử Vi tọa thủ lại có thêm Tam Hóa cùng chiếu: Toàn mỹ.

2.2. Thiên Cơ

Thiên Cơ là một mộc tinh, cung Mệnh có Thiên Cơ tọa thủ miếu, vượng đắc địa là người cao lớn, da trắng, mặt dài, xương lộ nhưng đầy đặn, mát da mát thịt, thông minh, khôn ngoan, tính nhân hậu nhưng biết tùy cơ ứng biến, có óc kinh doanh, giỏi mưu lược, được hưởng giàu sang và sống lâu.

Hãm địa thì hơi thấp, đậm nét, da trắng, mặt tròn, kém thông minh, nhiều mưu xảo trá, khôn vặt, buôn bán ngược xuôi, xoay xoả nhưng cũng giỏi về thủ công, cũng được phong lưu và sống lâu.

Gặp nhiều sao phúc tinh, cát tinh như Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc tất được hưởng phúc lộc thọ song toàn và có uy danh lừng lẫy. Gặp nhiều sát tinh như Hình Kỵ, Kình Đà, Không Kiếp là dễ bị tàn tật hay mắc chứng bệnh nan y, lang thang phiêu bạt, cô đơn và yếu tử. Gặp Tuần Triệt là dễ mắc tai nạn xe cộ hay toạ thủ đau thương, súng đạn. Gặp Hỏa Linh, Việt là dễ bị nạn binh đao. Miếu ở Thìn Tuất là người nhiều mưu trí, giỏi chiến lược, có nhiều sáng kiến. Miếu ở Mão Dậu gặp Đại Hao hay Tiểu Hao là người tài kiêm văn võ.

2.3. Thái Dương

Sao Thái Dương ở cung Mệnh miếu địa nhất tại cung Mão, hợp nhất với người mệnh Thổ. Nếu chính tinh này ở Ngọ là lợi cho người mệnh Hoả, Thổ. Ở Dần đóng cùng với chính tinh Cự Môn thì cực kỳ tốt. Tuổi Nhâm Quý thì giàu có lớn do Lộc Tồn ở Tý và Hợi hợp với Tử Vi và Thái Dương. Người tuổi Bính, Tân, Đinh làm lớn và có tài về văn chương, nổi tiếng một thời.

Nếu gặp thêm nhiều sao văn tinh sáng sủa nhất là Khôi Việt, Xương Khúc, Hồng Đào, Hi, Tả Hữu và Tam hoá thì được hưởng vinh hoa tột bực, danh tiếng lẫy lừng, uy quyền hiển hách và phúc lộc thọ song toàn.

Đắc địa mà gặp Tuần Triệt thì mắt kém, thiếu sức khoẻ và mắc bệnh thần kinh, bệnh nung huyết, dễ chán nản và ăn chơi, sớm ly hương, sống đời lãng tử, công danh bất đạt

Thái Dương Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa như Kình Đà Không Kiếp, Thiên Riêu, Y Hình Kỵ là suốt đời vất vả, công danh lận đận, bất mãn nặng nề, tiền tài lên xuống thất thường. Và cũng dễ bị ghen tuông chèn ép, do tài không được dụng.

Thái Dương hãm địa có Riêu Y là nước mắt, cuộc đời sầu thảm. Có Không Kiếp chủ về mù lòa. Gặp Lưu Hà, Địa Kiếp, Long Đức ở Hợi Tí chủ về thất bại đau khổ vì tình.

Nếu chính tinh Thái Dương đắc địa gặp Hoá Kỵ đồng cung mà không có bại tinh, hung tinh thì đời tươi sáng, giàu sang phú quý, như gấm như hoa. Chính tinh Thái Dương hãm ở Thân, Tuất nếu thêm hung tinh cũng dễ gặp cảnh tù đày, hình ngục hoặc tai nạn dẫn đến què quặt, hình thương, chết sớm.

Chính tinh Thái Dương hãm nhưng gặp Tuần Triệt thì tha phương mới thành công. Chính tinh này chủ về công danh, uy quyền, cần tam Hoá và ở vào cung vượng hoặc đắc tọa. Nếu gặp Kình Dương, Đà La, Thiên Hình chủ về bị vật nhọn đâm vào mắt. Gặp Địa Không, Địa Kiếp là mổ mắt. Gặp Không Riêu Y là mặt có tật, đa tình, nhiều tính nữ.

  • Nam mạng: Nếu Thái Dương nhập miếu, vượng, đắc thêm nhiều sao sáng sủa tốt đẹp thì tài giỏi, thao lược, văn võ kiêm toàn, thông minh và hưởng giàu sang tột bực, có uy quyền, danh tiếng và thọ. Nhật hãm mà nhiều hung tinh hội họp thì chung thân bôn tẩu, nhưng cũng là người có tài mà công danh không đạt, dễ bị non yểu và tai nạn.
  • Nữ mệnh: Đắc địa thì vượng phu ích tử và tốt đẹp y như của nam mạng, nhưng tính cương quyết, lấn át chồng.

Hãm địa thì đa sầu đa cảm, mắt kém, suốt đời bất mãn. Lấy chồng muộn hay lấy làm kế thì nhân duyên mới bền. Nếu lấy sớm thì khắc chồng. Gặp Hồng Đào, Không Kiếp, Lưu Hà, Long Đức là nổi trôi như cánh bèo mặt nước, tha phương như giọt mưa không biết đâu là bờ bến. Đền hạn gặp ác sát tinh, hay đến cung bại, tuyệt địa là dễ bị tai nạn tàu xe, song nước.

2.4. Thái Âm

Đa tình ưa văn chương, mỹ thuật, được hưởng giàu sang và sống lâu

Sao Thái Âm chủ về điền tài, cung Mệnh có Thái Âm miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ thì thân hình đậm đà, cao, da trắng, mặt vuông đầy đặn, mắt sáng, đẹp đẽ, thông minh, tính điềm đạm, nhân hậu, đa tình ưa văn chương, mỹ thuật, được hưởng giàu sang và sống lâu. Nếu hãm thì người lạnh lùng, ham chơi, sa đọa, bạc tình, dễ bị cô đơn, sống đời lãng tử, giang hồ.

Chính tinh Thái Âm nhập miếu, vượng và đắc thì hợp Âm Nam, Âm Nữ, nếu sinh vào ban đêm và cuối tháng thì hợp. Gặp nhiều sao cát tinh hội tụ như Xương Khúc, Khôi Việt, Hồng Đào, Tả hữu và Tam Hoá thì giàu sang trọn đời.

Thái Âm miếu, vượng, đắc gặp Tuần Triệt án ngữ là bị phá tán hết cái quang huy của sao Thái Âm, chủ về một đời bất mãn, lao đao, bôn ba nay đây mai đó. Mệnh đi xa lập nghiệp mới giải trừ được.

Chính tinh Thái Âm miếu, vượng, đắc địa nhưng gặp sát tính thì kém, công danh bắt nhất, mà nhiều nỗi đau buồn nội tâm, nhất là gặp thêm Riêu Y (nước mắt) dễ khắc cha mẹ, phu thê và tử tức. Ngoài ra còn dễ bị bệnh về ruột, gan, mắt và dễ gặp tai nạn nữa.

Thái Âm hãm gặp nhiều sao như Xương Khúc, Khôi Việt, Hồng Đào, Tả hữu và Tam Hóa chủ về các bậc danh sĩ, các nghệ sĩ có tài có tiếng tăm phong nhã hào hoa.

Nếu chinh tinh Thái Âm hãm ở cung Mệnh thì cần Tuần Triệt là đi xa lập nghiệp dễ thành công. Thái Âm kỵ Riêu Y chủ về đau khổ, gặp Thiên Hình là có vật nhọn đâm vào mắt, nếu có thêm Văn Xương ở Tật chủ về chết đuối.

Chính tinh Thái Âm cũng là sao của ban đêm nên là loại dâm tinh, dù đắc địa hay hãm địa đều nghiêng về sự ăn chơi, hưởng thụ, nếu gặp sao tốt tụ họp thì cuộc đời sung sướng, mà ngược lại gặp nhiều sao xấu hay mờ ám lại là cô đơn, đa đoan, giang hồ khách bởi chỉ sự đi xa.

2.5. Vũ Khúc

Cung Mệnh có Vũ Khúc miếu, vượng, đắc địa toạ thủ thì người cao vừa , đậm đà, to ngang, nặng cân, ưa sự cô độc, tính nghiêm khắc, uy nghi, dễ khắc cha mẹ, anh em hay khắc vợ chồng và hiếm con, hoặc khắc con. Có chí lớn, cương nghị, thẳng thắn, có óc khoa học kinh doanh, được giàu sang và sống lâu. Cần gặp hay phối hợp với các sao Tử Phù, Thiên Tướng, Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, Long Phượng và tam Hoá.

Miếu địa ở Thìn Tuất, gặp Long Phượng và tam Hoá là cách Phượng Hoàng dực vũ, dễ thành công lớn, bạch ốc phát công khanh. Nếu miếu địa ở Sửu Mùi thì lúc trẻ gặp nhiều gian truân trắc trở, ngoài 30 trở ra mới thành công.

Đắc địa ở Mão, dù được giàu sang nhưng dễ gặp tai hoạ về dao súng, lửa điện bởi Mão là cung Lôi Chấn. Nếu có Vũ Khúc đắc ở Dậu thì được hưởng giàu sang, nhưng hay lấn át và đa sát, dễ mắc chứng về ruột hoặc tai nạn xe cộ. Vì cung Dậu là cung Di thứ 2, hợp với Vũ Khúc nên có uy đới với biên di.

Nếu cung Mệnh có hãm địa thì kém thông minh, tham lam, biển lận, hay xoay xoä. Nếu gặp nhiều sao trợ tinh hội họp như Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, tam Hóa thì là người chăm chỉ khéo tay, đi buôn hay làm kỹ nghệ dễ thành công, hoặc làm thợ chuyên môn tinh xảo.

Hãm địa mà thiếu các trợ tinh tốt đẹp, nếu thêm sát tinh Hình Kỵ, Không Kiếp, Song Hao thì chủ về tính nết biển lận, gian tham, bất lương, độc ác, suốt đời cùng khổ, đới tật nan y, có khi yếm thể, tự tử.

Chính tinh Vũ Khúc là sao chủ về võ nghiệp nên chủ làm mạnh và lấn át. Đàn bà có Vũ Khúc thủ mệnh, miếu vượng, đắc địa và nhiều sao tốt hội họp thì đảm đang, gan góc, vượng phu ích tử, nhưng lấy chồng muộn mới tốt, lấy sớm thì khắc. Hãm địa thì lăng loàn, tham lam, vất vả và khó tránh được tai hoạ khủng khiếp.

2.6. Thiên Đồng

Cung Mệnh có Thiên Đồng Miếu, Vượng, Đắc thì thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mặt vuông vắn đầy đặn. Thông mình, ôn hoà, nhân hậu, nhưng hay thay đổi, không bền chí. Hãm địa thì kém thông minh, nông nổi, vẫn nhân hậu vị là sao phúc tinh. Chóng chán, thích chơi đời, ăn uống, ly tổ bôn ba, lo lắng về sinh kế và hãm ở Thìn Tuất Sửu Mùi là người hay khoác lác và không biết giữ gìn lời nói, mang tiếng thị phi.

Hãm ở Ngọ là người có óc kinh doanh. Đồng là Văn tinh, hãm thì xắn, nhưng phối hợp được nhiều cát tinh Xương Khúc, Khôi Việt, Ân Quang, Thiên Quý, Tả Hữu, Hồng Đảo, Tam Hoá thì vẫn hiển đạt. Dù Đắc địa nhưng gặp ác tinh Hình Kỵ, Linh hỏa, Kình Đà thì suốt đời lao khổ, mắc bệnh tật khó chữa và không được thọ.

Nữ mệnh gặp Thiên Đồng miếu, vượng hay Đắc địa, thêm nhiều trợ tình tốt đẹp thì vượng phu ích tử được giàu sang và sống lâu, Nếu Đồng hâm thì lấy chồng muộn hay lấy kế thì mới vững về nhân duyên, nếu không dễ bị khắc chồng. Hãm địa là người dâm dật, ly tổ, nay đây mai đó và dễ mắc các chứng bệnh nan y ở bộ phận sinh sản hay ruột gan và tuổi thọ cũng bị chiết giảm.

2.7. Liêm Trinh

Cung Mệnh có Liêm Trinh miếu, vượng, đắc địa toạ thủ thì người cao lớn, lộ xương, da dày, màu hung đậm, mặt hơi dài, lưỡng quyền cao, vẻ mặt có nhiều nét nghiêm nghị, mắt lồi nhưng sang, lông mày rậm.

Hãm địa thì lộ hầu, cao gầy và tóc râu thưa thớt. Đắc địa thì tính tình dũng mãnh, liêm chính, can đảm, thẳng thắn và công bình, hơi nóng tính, được hưởng giàu sang và sống lâu. Cần nhất gần Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc, Phủ Tướng, Xương Khúc thì được giàu sang tột bậc, có uy danh, ai cũng kính sợ.

Miếu địa, vượng địa hay đắc địa mà không gặp các trợ tinh tốt đẹp, lại gặp Sát tinh Hình Kỵ thì suốt đời bất mãn, túng thiếu, công danh trắc trở, lại hay bị giam cầm, tù tội và tai nạn nguy hiểm.

Hãm địa tối kỵ gặp Văn Xương, Bạch Hổ vì dễ bị đi đày. Đắc địa nhưng gặp vừa sát tinh vừa trung tinh tốt thì là người có tài về kinh doanh, máy móc, dễ làm các công việc liên quan đến sự bắt giữ như cảnh sát, bắt cá, săn bắn, kỹ thuật, điện tử và chủ đi xa lập nghiệp mới tốt.

Gặp Linh Hoả ở Mão Dậu là người gian ác, can tội sát nhân. Liêm hãm ở Tỵ Hợi gặp Xương Khúc, tuổi Bính dễ bị tù dày, nguy hiểm vì có thêm Hoá Kỵ.

Nữ mệnh Liêm Trinh vượng, đắc địa thì tài giỏi, đảm đang, trang nghiêm, đứng đắn, nhưng lập gia đình muộn mới tốt, nếu không dễ khắc chồng. Hãm địa thì là người tàn ác, ti tiện, vất cả 1 đời mà khắc hại chồng con, lang thang phiêu bạt, cô đơn, dễ mắc các chứng nan y, yếu tử hay tàn tật.

2.8. Thiên Phủ

Người đầy đặn, vẻ mặt thanh tú, da trắng, tính ôn hoà, đôn hậu

Nếu cung Mệnh có chính tinh Thiên Phủ độc toạ thì người đầy đặn, vẻ mặt thanh tú, da trắng, tính ôn hoà, đôn hậu, biết đường lui tới, giỏi mưu cơ, sống lâu và ít bệnh tật. Suốt đời được hưởng phúc lộc, giàu sang. Sao này chủ vừa lẫn, kho tang, chủ về Tài Lộc. Thiên Phủ cần gặp Tử Vi, Lộc Tồn, tam Hoá, Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt, Thiên Xương. Tối kỵ gặp Tuần Triệt án ngữ, hay Không Kiếp hội họp. Có những sao này thì tính nốt hoang tàn, ăn tiêu phá của, tính lông bông nay đây mai đó, không thiết thực. Người cao gầy, da mất, hay trí trá, không thể tin cậy được. Bởi Thiên Phủ chứa sự nghiêm cần, thận trọng, mà gặp sát tinh, bại tính thì là phản cách. Tuổi thọ cũng chiết giảm, nghèo khổ.

  • Nam mệnh: Gặp nhiều trợ tính tốt đẹp thì phú quý song toàn, nghiêng về kỹ nghệ, thương mại, tài chính nhiều hơn về chính trị hay văn hoá. Gặp Tuần Triệt án ngữ hay Thiên Không, Không Kiếp hội họp, Song Hao, bại tinh thì vất vả, cũng khổ.
  • Nữ mệnh: Đắc địa, hợp mệnh thì người phương phí, có dáng đáp mệnh phụ phu nhân, vượng phu ích tử. Được sống lâu và cảng về già càng giàu, Gặp Tuần Triệt thì y như nam mệnh.

2.9. Thiên Lương

Người cung Mệnh Thiên Lương thân hình thon cao, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô, tính dễ dãi, từ thiện, được hưởng tuổi thọ lâu dài. Miếu vượng đắc thì chủ về thông minh, có tính nhân từ, đôn hậu, được sang trọn đời.

Hăm ở Tỵ Hợi thì kém thông minh, dù nhân hậu vẫn nhu nhược, nông nổi, thích chơi bời, phóng đăng, hoang phí và phiêu lưu. Làm việc không bền chí cả nể, thắt bụi vì u tối. hãm ở Tỵ Hợi Dậu là cả đời không được xứng ý toại lòng, thay đổi chí hướng luôn, dễ gặp tai hoạ.

Gặp nhiều sao văn tinh hội họp, như Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt, Hồng Đào, Tam Thai, Bát Tọa, Quang Quý và Tam Hoá chắc chắn được hưởng phúc trọn đời, làm nổi Thủ Tướng và có uy quyền hiển hách

Miếu địa, gặp nhiều sao Phúc tinh như Quan Phúc, Tứ Đức, Quang Quý, Tả Hữu, Riêu Ý thì chuyên về y dược, làm nổi bác sĩ y khoa, danh tiếng lẫy lừng, thầy thuốc giỏi. Hãm địa và gặp nhiều sao xấu mờ ám thì dễ bị hình thương, tai nạn và cũng khổ, cô đơn. Nếu gặp Linh Hóa, Hình Kỵ và Tuần Triệt thì dễ bị bắt đắc kỳ tử.

Nữ mệnh Thiên Lương vượng miếu địa thêm nhiều văn tính hội họp là người vượng phu ích tử, bậc hiển phụ, được hưởng giàu sang trọn đời. Nhưng nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì muốn lệ gia đình, hay lấy làm kế mới thọ và tránh được chuyện ly khắc buồn thương.

2.10. Thiên Tướng

Cung Mệnh có Thiên Tướng miếu địa, vượng, đắc địa tọa thủ thì người cao lớn, to ngang, da trắng, mắt sáng sâu, đẹp đẽ, uy nghi. Thông minh, thẳng thắn, hào phóng, ưa thanh sắc, thích ăn chơi, chưng diện và được hưởng giàu sang trọn đời.

Hãm địa thì thấp, béo đậm, kém thông minh nhưng cũng đôn hậu, mê chơi và không biết lo xa, không được giàu sang nhưng cũng được hưởng thụ và hiếu khách. Gặp Tử Phủ, Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, tạm Hoá thì được phú quý song toàn, có quyền uy hiển hách và thọ.

Gặp Kình Đà thì nên chuyên về kỹ nghệ hay thương mại thì được giàu sang chắc chắn. Hãm địa và gặp nhiều trợ tinh tốt đẹp thì ban đầu vất vả nhưng sau vẫn thành công.

Miếu địa gặp nhiều sao sát tinh như Kình Đà, Linh Hoả, Song Hao hội họp thì dù có được giàu sang, nhưng lên xuống thất thường và hay gặp bệnh tật ở đầu, mặt. Hãm địa mà gặp các sát tinh thì tất nhiên là vất vả, thất bại nhầm lẫn, suốt đời lao khổ vì sinh kế, lại dễ gặp tai nạn và giảm thọ.

Tối kỵ gặp Tuần Triệt án ngữ vì Thiên Tướng là đại diện cho đầu, bị 2 sao này là dễ gặp tai nạn gươm đao khủng khiếp, công danh trắc trở bởi làm gì cũng bị phá ngang, không thành đạt được.

Gặp Thiên Hình đồng cung là dễ bị tai nạn súng đạn gươm đao, bị tàn phế chân tay. Gặp Riêu Y, Hình Kỵ là bị bệnh về óc, thần kinh và điên loạn. Nếu gặp Tuần Triệt, chỉ nên tu hành mới giải được tai nạn. Gây nhiều âm đức, từ tâm, cũng giải trừ được tai hoạ.

Nữ mạng, gặp Thiên Tướng cao số, hay ghen tuông và có tính đàn ông, nhưng là người tài giỏi, gây nên cơ nghiệp cho chồng con, nếu gặp Miếu địa và nhiều trợ tinh tốt đẹp. Ngược lại nếu hãm, dù có trợ tinh tốt cũng dễ khắc chồng, lấy làm kế hay lấy muộn mới bền. Nếu lại gặp trợ tĩnh xấu thì chủ về suốt đời vất vả, khóc chồng con và dễ gặp tai hoạ nguy hiểm.

Thiên Tướng là sao vũ dung nên luôn vùng lên, đồi với nam giới thì chủ uy quyền, còn với nữ giới thì lại là ngang ngược, cao số, không tốt.

2.11. Tham Lang

Cung Mệnh có Tham Lang miếu, vượng hay đắc địa thì thân hình cao lớn, da trắng mặt đầy đặn, râu tóc, lông nhiều, có ấn tướng, tính ham ăn chơi, tự đắc, hiếu thắng, nông nổi, nhiều tham vọng và đa đục, có óc kinh doanh. Tính gấp, muốn thành công mau chóng bằng con đường tắt. Siêng năng buổi đầu, sau dễ chán nản. Được hưởng thụ giàu sang và sống lâu.

Hãm địa thì chủ về hay nhầm lẫn. Tính nham hiểm, tham lam, dâm đãng. Dễ mắc bệnh bộ phận tiêu hoá, sinh dục. Số nghèo khổ, gặp tai nạn khủng khiếp và không được thọ. Miếu, đắc địa cần gặp Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc hay Hỏa Linh Đắc địa thì được giàu sang, có uy quyền hiển hách và sống lâu.

Chính tinh Tham Lang độc tọa cung Mão Dậu là người làm việc gì cũng dễ thất bại, dễ bị cô đơn, chỉ số tu hành mới được yên thân hưởng thọ. Ở Tỵ Hợi gặp nhiều sao xấu thì dễ bị tù tội hay tại nạn nguy hiểm.

Nam mạng, nghiêng về võ nghiệp. Nữ mạng, hãm địa hại chồng khắc con và cô độc, dễ gặp tai nạn, hay ghen tuông táo bạo và bạc tình. Phụ nữ nói chung không hợp với cách Sát Phá Liêm Tham, dù có Đắc địa tốt đẹp đến mấy cũng lấn át chồng con và cao số.

2.12. Cự Môn

Khó nuôi, dễ bị dính vào pháp luật mà tù tội, kiện cáo và mắc tai nạn

Cung Mệnh có chính tinh Cự Môn miếu, vượng, đắc địa toạ thủ thì thân hình đẫy đà, thấp lùn, da trắng, mặt vuông đầy đặn, thông minh, nhân hậu, nhiều mưu lược, lý sự, thiết thực và được giàu sang sống lâu. Nghiêng về tiếng nói, lập luận. Nếu hội họp nhiều cát tinh và có Khoa Quyền Lộc thì được phú quý tột bậc, có uy quyền và danh tiếng lẫy lừng.

Hãm địa thì chủ về là người kém thông minh, da ngăm đen, nhiều tài vặt nhưng ngoan cố, hay khoác lác và ghen tị với người khác. Người có Cự Môn hãm địa không thích giao tiếp rộng, dễ làm mất lòng người khác. Ngoài ra người này khó nuôi, dễ bị dính vào pháp luật mà tù tội, kiện cáo và mắc tai nạn. Ly hương mới bớt được tai nạn.

Nếu chính tinh Cự Môn hãm ở Tý Ngọ, gặp Văn Xương Văn Khúc, Khôi Việt, Thái Tuế, Hoá Khoa thì là người có văn tài, giỏi ngoại giao, biện thuyết đanh thép, nghiêng nhiều về chính trị, văn học và tư pháp. Nếu chính tinh này độc toạ ở Tý Ngọ gặp thêm Lộc Tồn thì cần có Tuần Triệt mới tốt. Nếu không có Tuần Triệt thì có tài mà không được dùng, cần có Tuần Triệt phá vỡ mới lộ ra được.

Chính tinh Cự Môn hãm ở Thìn Tuất là mờ ám xấu xa, dễ gặp tai nạn, bị giam cầm, sa lầy, tai họa sông nước hay ác thú. Chính tinh này tọa ở Mệnh nên làm nghề thầy, luật sự, giáo sư hay các ngành ngoại giao, buôn bán, thương mại. Chính tinh Cự Môn tối kỵ gặp Hoá Kỵ, Kình Dương Đà La, Linh Hoả, nếu hãm và gặp nhiều sao xấu thì khó tránh tai ương cực kỳ nguy hiểm.

2.13. Thất Sát

Cung Mệnh có Thất Sát Miếu địa, vượng hay Đắc địa toạ thủ thì người cao lớn, rắn chắc, da hơi đen, mắt to và trố, ngang ngạnh, bướng bỉnh, nóng nảy, hăng say và hiếu thắng, hay nói đại ngôn, can đảm và nhiều mưu cơ. Hãm địa thì người thô bạo, hung hăng, nhiều vết ở mặt hay trong mình, hay nói khoác, ngoan cố và liều lĩnh, dám làm tới, đa sát và tàn nhẫn.

Miếu Vượng hay Đắc địa nhưng thiếu trung tinh trợ tá thì chỉ được 1 thời vinh hiển hay uy quyền nhưng mau tàn và dễ gặp tai nạn súng đạn, gươm đao, xe cộ hay bị bắt bớ giam cầm.

Đắc địa có 1 số cát tinh hội hợp và thêm 1 số hung tinh nữa thì làm về ngành chuyên môn, kỹ thuật như kỹ sư, hoặc thợ chuyên môn có tài, nhưng dễ gặp tai nạn hoặc không được thọ

Chính tinh Thất Sát hãm địa gặp Tả Hữu, Long Phượng, Hồng Đào, Xương Khúc thì là hoạ sĩ có tài, nghề ảnh hoặc điêu khắc. Hãm địa gặp Kình Đà, nhiều sát tinh thì là binh sĩ, cảnh sát hoặc đánh cả, nhưng cũng dễ bị nạn gươm đao, súng đạn. Hãm gặp Thiên Hình, Đường Phù, Văn Xương, Bạch Hổ là bị đi đày, hình ngục hay chết vì xe cộ, sông nước.

2.14. Phá Quân

Cung Mệnh có Phá Quân miếu, vượng địa thì thân hình đẫy đà, mặt mũi đầy đặn, da trắng, mắt lộ, lông mày thưa. Đắc địa hay hãm địa thì người hơi thấp, da hơi đen, tính nóng nảy bắt nhất.

Miếu, vượng, đắc địa thì cương quyết hiếu thắng, tự đắc, có tài thao lược, nhiều thủ đoạn, can đảm, ưa hoạt động tích cực và ưa nịnh hót. Hãm thì nham hiểm, ương ngạnh, bất nhân, xỏ xiên, tàn nhẫn và quỷ quyệt.

Đàn bà gặp Phá Quân dù miếu, vượng hay đắc đều gan lì, hay ghen, táo bạo, lăng loàn, dễ làm cho mất lòng. Hãm địa thì vô tình, dâm dật, khắc chồng, cao số nhưng phiêu bạt, trôi nổi. Nên lấy làm kế, hay lấy muộn thì hậu vận mới được thời vớt vát lại được, nếu không thì cô đơn suốt đời.

3. Một số phụ tinh ảnh hưởng cung Mệnh

3.1. Tả Phù, Hữu Bật

Hai trợ tinh bậc lớn, chủ về sự tăng trưởng, tích chữ sự cố vấn vì vậy ảnh hưởng 2 chiều. Tả Phù nghiêng về Văn còn Hữu Bật nghiêng về Võ. Tả Phù coi như viên cố vấn chính trị, còn Hữu Bật coi như viên cố vấn quân sự.

Tả Hữu không có cung nào hãm địa. Sự Đắc địa của Tả Hữu là ở chỗ gặp các chính tinh hay cát tinh Đắc địa, thì làm cho rạng rỡ thêm, mạnh mẽ thêm, có tính cách bốc lên mạnh mẽ. Còn hãm địa là khi đứng chung với các hung tinh, hãm thì làm cho mờ ám, tăng cường tai hoạ thêm.

Tả Hữu gặp Tử Phù, Khôi Việt, Xương Khúc, Tam Hóa là chủ về được hưởng vinh hoa phú quý trọn đời, và thọ. Mệnh có Tả Hữu dù có văn tinh tốt đẹp nhưng nếu có lẫn sát tinh thì ly hương, đi lập nghiệp phương xa mới tốt.

Cung Mệnh có Tả Hữu mà gặp nhiều hung tinh, sát tinh hãm địa thì trong người có nhiều vết, rỗ sẹo, có thương tật, tính gian trá, hiểm độc, hay lừa dối hại người, Đương số cũng sẽ khổ, không mấy thọ và dễ gặp tai hoạ khủng khiếp. Tả Hữu tối kỵ gặp Cự Môn, Phá Quân hãm hoặc Liêm Tham tại Tỵ Hợi, thêm nhiều sát tinh là tù tội khó tránh.

3.2. Thiên Khôi, Thiên Việt

Gặp Tuần Triệt án ngữ thì Khôi Việt mất hiệu năng, gây tai hoạ ngược lại

Hai sao này là trợ tinh bậc lớn, quan trọng, chủ về sự trưởng thượng, sự tăng trưởng. Đắc địa thì nhập với các chính tinh sáng sủa. Còn hãm là khi đóng với các sát tinh ở nơi bại địa, làm cho sự xui xẻo thêm nặng nề hơn. Hay gặp Tuần Triệt án ngữ thì Khôi Việt mất hiệu năng, gây tai hoạ ngược lại.

Cung Mệnh có Khôi Việt tọa thủ là con trưởng. Nếu không thì khắc anh mà đoạt trưởng. Trong trường hợp này nên đổi họ, nếu không trưởng trong nhà bị khắc nặng nề.

Cung Mệnh có Thiên Khôi, Thiên Việt thì thông minh, đẹp đẽ, đàng hoàng kiêu ngạo, cao thượng, hào hoa phong nhã. Gặp Xương Khúc thì có tài văn chương, thi sẽ đỗ cao, giỏi văn thơ, hội hoạ, tài kiêm văn võ. Gặp Tả Hữu, tuỳ theo chính tinh làm Đại Thần. Nếu gặp hung tinh thì làm đến đại tướng hoặc nhà kinh doanh lớn.

Gặp Hồng Đào thì may mắn lớn, lấy vợ tốt đẹp, quyền cao chức trọng. Đàn bà có Đào Hoa, Thiên Khôi là Hoa Khôi. Gặp Lộc Tồn, Hoá Lộc là giàu có lớn. Gặp Quyền Khoa là đỗ đại khoa, làm chức lớn.

Gặp Tuần Triệt án ngữ là bất mãn, dễ bị đau đầu. Nếu Tướng Quân, Thiên Mã cùng bị Tuần Triệt là dễ bị bất đắc kỳ tử, tại nạn sông nước, tàu xe, mất chức hay mất cơ nghiệp

3.3. Lộc Tồn

Sao Lộc Tồn không bao giờ đóng ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi và không có cung nào là hãm địa. Ở Tỵ Ngọ là miếu địa, còn lại đắc địa hết. Lộc Tồn ít khi đóng riêng rẽ vì là sao trợ tinh và là cứu tinh chuyên cứu khốn phò nguy. Lộc Tồn ở cung Mệnh là được thừa hưởng cơ nghiệp do tiền nhân để lại.

3.4. Hỏa Tinh, Linh Tinh

Mệnh Hỏa Linh hãm tọa thủ thì tính nết thất thường, hay mắc chứng thần kinh, bệnh về máu huyết, thận kém

Cung Mệnh có Hỏa Tinh đơn thủ thì thân hình gầy khổ, lông tóc hoặc vàng, có nhiều vết trên người, răng môi xấu, tính ương ngạnh nóng nảy.

Hỏa Tinh, Linh Tinh đắc địa thủ mệnh là người có chí khí hiên ngang, dũng mãnh, có sức khoẻ dồi dào và ít tai nạn. Người sinh năm Dần, Mão, Tỵ Ngọ có Hỏa Linh ở Mệnh là đắc cách. Mệnh Hỏa Linh hãm tọa thủ thì tính nết thất thường, hay mắc chứng thần kinh, bệnh về máu huyết, thận kém, suốt đời khổ vì hao tài, dễ gặp tai nạn, mang thương tật trong mình. Mang Hỏa Tinh, Linh Tinh trong cung Mệnh khắc gia đình, cha mẹ, anh chị em.

3.5. Văn Xương, Văn Khúc

Cung Mệnh có Văn Xương, Văn Khúc tọa thủ thì người nhỏ nhắn, dong dỏng cao, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô. Đắc địa thì mắt sáng, tai đẹp, có tài, sành văn chương nghệ thuật. Là người học rộng, tài cao, kiêu ngạo và tế nhị, nghĩa là sao chủ về học vấn và trí thức.

Xương Khúc đắc địa đóng chung với chính tinh cũng đắc địa và có nhiều cát tinh tụ hội thì tuổi trẻ tài cao, thi đỗ sớm, quý hiển sớm, được hưởng lộc thọ song toàn. Văn Xương Văn Khúc đắc địa, gặp tam Hoá thì chủ về có tác phẩm văn chương hay mỹ thuật.

Gặp chính tinh văn tinh nhưng không có tam hoá thì trung bình, làm công tư chức văn phòng, nhưng cũng là người sành điệu văn chương, tốt đẹp. Gặp Tuần Triệt hoặc nhiều sát tinh tụ hội thì công danh trắc trở, không bền, có tài mà không được công nhận, đi thi khó đỗ cao, bất mãn.

Gặp Vũ Khúc đóng chung với Văn Khúc ở Thìn Tuất, nếu thêm tam hoá thì văn võ toàn tài, được hưởng vinh hoa phú quý trọn đời và có uy quyền hiển hách. Văn Khúc Đắc địa gặp Tham Lang, thì được quan cao chức trọng và có nhiều đồ quý giá. Xương Khúc hãm, mệnh có chính tinh cũng hãm thì non yếu, dễ gặp tai hoạ hay què quặt. Xương Khúc tối kỵ đóng ở Tật Ách vì tuổi thọ bị chiết giảm.

3.6. Hoá Lộc

Thích ăn ngon mặc đẹp và được giàu sang trọn đời

Cung Mệnh có Hoá Lộc toạ thì mặt hồng hào, râu tóc rậm, vui tính, lạc quan, lương thiện, thích ăn ngon mặc đẹp và được giàu sang trọn đời. Gặp các chính tinh đắc địa thì hưởng vinh hoa phú quý suốt đời. Gặp Tuần Triệt, Song Hao, Tuế Phá, Không Kiếp thì hoang phí, phá của, phải lao lực vất vả lúc ban đầu, sau mới lại lập nên cơ nghiệp được. Gặp Tuế Phá, Kình Đà, Song Hao, Không Kiếp có khi là máu, bị mất máu, gặp tai nạn đổ máu. Trường hợp ấy cần xem kỹ cung Tật hoặc cách của Mệnh.

3.7. Hóa Quyền

Cung Mệnh có Hóa Quyền thì kiêu ngạo, chủ quan, được giữ những trọng trách có uy quyền đóng chung với Tử Phù và Đế Vượng thì làm nguyên thủ quốc gia hay làm to ở một địa phương, có uy quyền hiển hách. Mệnh Hóa Quyền thì thân hình đầy đà, oai vệ, mặt vuông chữ điền, cằm bạnh, mắt sáng và tính nết nghiêm nghị.

Gặp hung tinh đắc địa, hiển hách về võ nghiệp nhưng cần có thêm bộ Tả Hữu thì mới là văn võ kiêm toàn. Nếu không thì chỉ là người ích kỷ, hay lấn át, gây sự bất mãn, ta than cho mọi người. Đóng chung với sát tinh, bại tinh hội họp thì liều lĩnh, hay làm ẩu, gây tai vạ không nhỏ. Đó là sự lạm quyền, bị ảnh hướng quật ngược, làm cho điêu đứng.

Gặp Tuần hay Triệt thì công danh trắc trở, bất mãn, tham quyền cố vị mà không đạt. Nếu có thêm nhiều cát tinh thì lại là nhà kỹ thuật tài ba, có tài năng đặc biệt, chỉ mình làm nổi mà người khác không làm được.

3.8. Hoá Khoa

Hóa Khoa gặp nhiều cát tinh thì đi thi dễ đỗ cao, có quyền chức lớn

Cung Mệnh có Hóa Khoa thì người thanh tú, nho nhã, tính khoan hòa, nhân hậu. Hóa Khoa là chỉ sự tinh anh của bậc tri thức, khoa bảng nên thông minh, ưa chuộng văn chương nghệ thuật.

Hóa Khoa gặp nhiều cát tinh thì đi thi dễ đỗ cao, có quyền chức lớn. Nếu gặp nhiều sát tinh cung không sao, sẽ giải trừ bớt ác khí của sát tinh. Hóa Khoa gặp Kình Dương, Long Phượng là có tác phẩm văn chương nghệ thuật. Hạn đang xui xẻo, gặp Hóa Khoa thì thay đổi hẳn, sẽ phong quang từ đó trở đi

Ngược lại, hạn đang tốt đẹp, gặp Khoa, nếu vẫn có nhiều cát tinh tốt đẹp thì càng tốt đẹp, nhưng nếu gặp sát tinh hay nơi bại địa, tuyệt địa thì có sự thay đổi nghiêng về thất bại.

3.9. Hoá Kỵ

Cung Mệnh có Hoá Kỵ thì mặt có nám đen hay thương tật trong người, như cận thị hay chân tay bị lép. Cần xem 2 sao chính là Tử Vi và Thái Dương xem có miếu hay đắc địa không, cũng như xem cung Tật và 2 sao Tuần Triệt. Nếu đóng chắn mặt Tướng Quân, Thiên Mã là dễ bị què hay gặp tai nạn tàu xe, sông nước.

Cung Mệnh Hoá Kỵ hay nhầm lẫn, mắc chuyện thị phi dễ hỏng công việc. Gặp Xương Khúc, Khôi Việt thì là người có văn chương nhưng không đỗ đạt, hoặc làm về các ngành về văn học nghệ thuật. Gặp các sát tinh đắc địa hội họp thì hoạch phát. Gặp Tuế Phá, Kình Đà là người bị kiện cáo, mắc tiếng thị phi, bị tù tội. Gặp Riêu Y, Song Hao thì nghiện thuốc. Gặp Phượng Các thì bị điếc hay tai ù. Gặp Đào Hồng là đau khổ vì tình.

4. Lời kết

Cung Mệnh là yếu tố cốt lõi trong lá số tử vi, đóng vai trò định hình nên bản chất và cuộc đời của mỗi người. Sự kết hợp của các chính tinh và phụ tinh trong cung Mệnh không chỉ phản ánh các khía cạnh về ngoại hình, cá tính và tài năng mà còn cho thấy những thành tựu và thử thách mà đương số sẽ gặp phải trong cuộc đời.

Chính tinh là những sao chính yếu, mang đến những tác động mạnh mẽ và trực tiếp. Phụ tinh, mặc dù có ảnh hưởng nhẹ nhàng hơn, nhưng lại có thể làm phong phú thêm và điều chỉnh những tác động của chính tinh, tạo nên một bức tranh tổng thể hài hòa và chính xác về vận mệnh của con người.

Hiểu rõ ý nghĩa của cung Mệnh và sự tác động của các chính tinh, phụ tinh sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân, từ đó có thể tận dụng những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm trong cuộc sống. Qua đó, chúng ta sẽ biết cách điều chỉnh, phát triển bản thân một cách hiệu quả và đạt được những mục tiêu mong muốn.

Hy vọng bài viết này đã cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích về cung Mệnh và tầm quan trọng của nó trong tử vi. Chúc bạn luôn thành công và hạnh phúc trên con đường khám phá bản thân và định hướng tương lai.